Thứ 2, Ngày 21/05/2012

Chỗ đứng của tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam

2011-12-30 09:00:53

Năm 2010, lần đầu tiên giá trị xuất khẩu tôm của VN vượt qua mức 2 tỷ USD, đạt 2,106 tỷ USD với sản lượng 240.985 tấn, trong đó tôm chân trắng chiếm tới 26% sản lượng và 20% giá trị.

Tôm chân  trắng  (còn  gọi  là tôm thẻ chân trắng, tôm thẻ) có  tên khoa học Litopenaeus vannamei (tên cũ Penaeus vannamei) phân bố tự nhiên ở biển phía đông Nam Mỹ, nơi có nhiệt độ nước cao hơn 20 độ C quanh năm, từ vùng Sonora thuộc Mêhicô,  đến  phía  bắc  Pêru.

 

Quá trình phát triển nuôi tôm chân trắng
Việc sinh  sản  nhân  tạo  tôm chân  trắng  (TCT)  thành  công lần  đầu  tiên  vào  năm  1973  ở Florida  từ  nguồn  tôm  bố  mẹ tự  nhiên  khai  thác  ở  Panama đã  dẫn  tới  quá  trình  phát  triển nhanh  chóng nuôi  loài  tôm này ở Trung, Nam Mỹ và Hawaii từ năm  1976.  Sản  lượng  năm  1998 đã đạt đỉnh  193.000  tấn,  sau đó giảm dần vì bùng phát dịch đốm trắng.  Việc  di  giống  nuôi  loài này ở châu Á sau đó đã làm sản lượng tăng vọt tới 1,386 triệu tấn năm 2004, trong đó Trung Quốc đóng  góp  700.000T,  Thái  Lan 400.000T,  Inđônêxia  300.000T. Sản  lượng  của  Việt  Nam  năm 2004  được  FAO  ghi  nhận  là 50.000T.  Hawaii  trở  thành trung  tâm  nghiên  cứu  thuần hóa  TCT,  sản  xuất  giống  sạch bệnh  –  kháng  bệnh  (SPF/SPR), và cải  thiện  tốc độ  tăng  trưởng.

 

Ở  Đông  Nam  Á,  Thái  Lan, tiếp  theo  là  Inđônêxia  cũng  cho phép  nuôi  TCT  từ  đầu  những năm  2000,  nhưng  chỉ  bằng  tôm giống SPF/SPR. Các nước khác ở khu  vực Đông Nam Á  và Nam Á  lúc  đầu  đều  có  tiếp  cận  khá dè  dặt  với  loài  này,  chẳng  hạn Campuchia,  Ấn  Độ,  Malaixia, Mianma,  Philipin  đều  chỉ  cho nuôi  thử nghiệm, do  lo ngại  lan truyền mầm bệnh mới,  chủ yếu là  vius  hội  chứng  Taura  (TSV), lên các đối tượng bản địa.

Thái Lan  là nước đi đầu khu vực Đông Nam Á về nuôi TCT, sản  lượng  hiện  lên  tới  khoảng 500.000  tấn mỗi năm. Nước này cũng đi đầu trong nghiên cứu tự sản  xuất  giống  TCT  sạch  bệnh, kháng  bệnh  và  cải  thiện  tốc  độ tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nuôi  trong  nước  và  XK.  Thậm chí, họ đã  có bộ giống TCT  cho các vùng  nuôi  có  những  điều kiện tự nhiên khác nhau.

Sự chậm chân của Việt Nam
 
Ông Trần Văn Lĩnh, TGĐ Thuận Phước: Nhà nước nên xây dựng những KCN để DN và dân đầu tư nuôi tôm tập trung
 
Ông Trần Thiện Hải, TGĐ Sea Minh Hải: Tính khoa học trong quy hoạch NTTS là điều rất cần bàn
 
Ông Nguyễn Tuấn Anh, TGĐ Utxi: Người nuôi đã tạo ra kỹ thuật gây tảo để TCT có màu đỏ đẹp không thua gì tôm sú

Việt Nam  cũng  là một  trong những nước đầu  tiên ở khu vực Đông  Nam  Á  du  nhập  giống TCT, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này vào loại chậm trong khu vực. Từ năm 1996-1997, một việt kiều Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập giống TCT về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001-2002 Bộ Thủy sản (cũ) mới  cho  3  doanh  nghiệp  100% vốn nước ngoài là Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh)  và  Công  ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống  SPF để  nuôi  thử  nghiệm.

Từ năm 2002, do bị  thiệt hại trong  nuôi  tôm  sú,  nhiều  địa phương ở phía Bắc và miền Trung đã chuyển sang nuôi TCT và thu được kết quả tốt; vậy nhưng phải đến đầu năm 2008, với Chỉ thị số 228 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ngày  25/1/2008,  đối  tượng  này mới  được  phép  đưa  vào  nuôi ở  các  tỉnh  phía  Nam  trong  các vùng quy hoạch và  theo những điều kiện nhất định.

 

Tuy  các  DN  đã  nhìn  thấy triển vọng của TCT ở Việt Nam từ  rất  sớm,  song quá  trình phát triển  nuôi  ở Việt Nam  đi  chậm hơn  nước  láng  giềng  Thái  Lan tới gần 10 năm. Đặc biệt, mặc dù cũng  có  đề  tài  nghiên  cứu  sản xuất  giống  được  “bảo  vệ  thành công” từ năm 2004, đến nay hầu hết đàn tôm TCT bố mẹ vẫn phải dựa vào nguồn NK.

Sự thận  trọng  của  cơ  quan quản  lý  đối  với một  đối  tượng nuôi mới  là hết sức cần  thiết để bảo  vệ  nguồn  gen  sinh  vật  bản địa và phòng ngừa sự xâm nhập của các mầm bệnh mới, song sự thận  trọng  thái  quá  như  trong trường hợp này  lại gây  thiệt hại lớn  về  kinh  tế  đối  với  cả  người nuôi, DN chế biến XK và cho cả đất nước.

 

Chỗ đứng của tôm chân trắng ở Việt Nam
Mặc dù mới được phép nuôi trên địa bàn cả nước 3 năm, sản phẩm  TCT  đã  đóng  góp  ngày càng quan trọng cho XK thủy sản Việt Nam. Giá  trị XK  của  riêng tôm chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi so với năm 2009, bằng 20% giá trị XK tôm nói chung và bằng 8% tổng giá  trị  XK  tất  cả  các  sản  phẩm thủy  sản  trong  năm.  Thị  phần của một  loài  như  vậy  là  không hề nhỏ. Ở đây chưa nói đến một sản  lượng đáng kể TCT tiêu thụ nội địa và XK tiểu ngạch. Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị XK chứng tỏ TCT đã  có  chỗ đứng vững  chắc trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam.

Tất nhiên, với Việt Nam, tôm sú vẫn là một đối tượng thủy sản XK  chủ  lực,  nhất  là  thế  mạnh cạnh tranh trên thị trường tôm cỡ lớn, nhưng sự có mặt của TCT đã tạo nên sự đa dạng, cả về chủng loại  sản  phẩm  lẫn  phổ  giá  bán, phù  hợp  với  nhiều  đối  tượng khách hàng.

 

Một  điểm  nữa,  nếu  chú  ý rằng,  theo  thống  kê  của  Bộ NN&PTNT, diện  tích nuôi TCT năm 2010 là 25.000 ha, sản lượng 135.000T, đem lại 414,6 triệu USD giá trị XK; trong khi đó diện tích nuôi tôm sú bằng 613.000 ha, sản lượng  330.000T,  đem  lại  1.439 triệu USD, có thể thấy TCT được nuôi  tập  trung hơn, do đó hiệu quả  sử dụng đất  cao hơn nhiều so với tôm sú.

Nếu mấy năm  trước, một  số DN chế biến còn e ngại TCT do chi  phí  nhân  công  chế  biến  cao hơn nhiều so với tôm sú, thì nay TCT đã có mặt  trong danh mục sản phẩm của tất cả các nhà XK tôm Việt Nam.

Ông  Trần  Văn  Lĩnh,  TGĐ Thuận Phước Corp  – đơn  vị đã “xé rào” XK TCT từ 7 năm qua – cho biết, sản phẩm TCT có nhiều lợi  thế  riêng,  do  “có  mùa  vụ nuôi hầu như quanh năm”. Đặc biệt ở miền Trung,  thời kỳ nuôi TCT hiệu quả  cao nhất  lại  là  từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, tuy tốc độ  lớn chậm hơn so với  thời kỳ  tháng  4-6, nhưng  ít  bệnh do môi trường ổn định, lại không bị thiên  tai đe dọa. Người nuôi áp dụng kỹ thuật thả mật độ cao rồi thu tỉa dần cỡ lớn có thể sản xuất được TCT cỡ lớn tới 20-21”.

 

Ông Nguyễn Tuấn Anh, TGĐ Utxi  Co  cho  biết,  TCT  cũng  có thể nuôi quanh năm ở Sóc Trăng và  thu  được  tôm  cỡ  lớn. Người nuôi  còn  sáng  tạo  kỹ  thuật  gây nuôi tảo thích hợp để TCT thành phẩm  cỡ  lớn,  chắc  thịt,  có màu thịt đỏ không thua gì tôm sú.

Vấn đề phải giải quyết
Hiện  nay,  vấn  đề  hàng  đầu quyết  định  thành  bại  của  nuôi TCT  là  con  giống.  Đây  là  điều được nhắc đi nhắc lại trên nhiều diễn  đàn  về  nuôi  TCT  ở  cả  3 miền,  nhưng  tương  lai  vẫn  còn chưa sáng tỏ. Bộ Thủy sản trước đây,  Bộ  NN&PTNT  hiện  nay cũng đã chi không ít tiền cho các đề tài nghiên  cứu,  song  sau khi bảo  vệ  thành  công,  các  kết  quả nghiên  cứu  được  đưa  vào  thực tiễn ra sao ít người biết.

 

 
Sản phẩm sushi TCT của Hải Việt Co.

Khác với tôm sú, TCT đã được thuần  hóa,  nên  người  ta  có  thể bắt ngay tôm từ ao nuôi thương phẩm để nuôi vỗ cho đẻ đến thế hệ F2, F3. Do đó, phẩm chất tôm giống bị thoái hóa, dễ bị sinh sản cận huyết, tốc độ lớn thấp và dễ nhiễm bệnh. Theo ông Lĩnh, năm vừa qua nông dân miền Trung, nhất là ở Quảng Ngãi đã bị thiệt hại  nghiêm  trọng  do mua  phải con giống trôi nổi, tôm chết hàng loạt. Việc quản lý tôm giống trên thị trường, nếu chỉ dựa vào đánh giá cảm quan hay thử phản ứng thông  thường,  không  thể  phát hiện  tôm  kém  chất  lượng  hay đang mang mầm bệnh.

 

Hơn  nữa,  toàn  bộ  TCT  đều nuôi thâm canh nên thiệt hại càng lớn  hơn.  Chỉ  các  DN  lớn,  nuôi theo quy trình quản  lý chặt chẽ, đầu tư lớn mới thành công. Một trong những yếu tố làm nên thắng lợi vang dội của Công ty CP Tập đoàn  Thủy  sản Minh  Phú  năm vừa  qua  cũng  nhờ  công  ty  chủ động được sản xuất tôm giống và nuôi tôm nguyên liệu cho mình.

 

Vấn  đề  nổi  cộm  tiếp  theo, theo ông Trần Thiện Hải  - TGĐ Sea Minh Hải, là quy hoạch vùng nuôi  còn  thiếu  căn  cứ khoa học và  thiếu  tính  đồng  bộ  giữa  các ngành  sản xuất. Về vấn đề này, ông Lĩnh đưa ra một đề xuất rất mới,  táo  bạo  và đáng  suy nghĩ, đó  là  nhà  nước  nghiên  cứu  xây dựng những  khu  công  nghiệp nuôi tôm ở khu vực ven biển miền Trung, để  các DN  và nông dân đầu tư nuôi tôm, cũng giống như các DN đầu tư vào các khu công nghiệp khác vậy. Bởi xét về hiệu quả sử dụng đất và  lợi  ích kinh tế, các khu công nghiệp nuôi tôm này sẽ có đóng góp không  thua kém các khu công nghiệp đã và đang có. Mặt khác, các khu công nghiệp nuôi tôm còn có lợi ích xã hội lớn vì không làm mất cơ hội việc làm với năng suất cao và thu nhập thỏa đáng cho chính dân cư địa phương.


Sản  xuất  nuôi  tôm  còn  rất manh  mún,  mối  liên  kết  giữa các  thành  phần  trong  chuỗi  giá trị sản xuất còn lỏng lẻo cũng là hạn  chế  phải  nhanh  chóng  tìm biện  pháp  khắc  phục.  Những kinh  nghiệm  xây  dựng  liên  kết chuỗi trong sản xuất cá tra có thể cung cấp bài học sáng giá đối với ngành  sản  xuất  tôm  Việt  Nam nói  chung,  sản  xuất  TCT  nói riêng. Quan hệ hợp tác giữa các tổ  chức  cộng đồng giữa VASEP và Hiệp  hội Tôm Mỹ Thanh  có thể  xem  là bước khởi đầu đáng quan tâm theo hướng này

 

Triển vọng
Chỗ  đứng  của  TCT  trong tập  đoàn  đối  tượng  thủy  sản của Việt Nam đã được xác định, những vấn đề cần giải quyết để đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ đối tượng này đã được nhận ra. TCT đang  có  tương  lai  rất  rõ  ràng  ở Việt Nam.

Với  tốc  độ  phát  triển  hiện nay, nếu các hạn chế được quan tâm khắc phục nhanh, đặc biệt là vấn đề tạo nguồn giống TCT tại chỗ, thích hợp với điều kiện môi trường,  sinh  thái  của Việt Nam, TCT hoàn toàn có cơ hội đuổi kịp và sánh vai cùng tôm sú, tạo nên cỗ  xe  “song  tôm”  làm  đầu  tàu cho XK  thủy  sản  của Việt Nam trong 3-4 năm tới.